Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

Dấu chỉ thời đại



Thiên Chúa ngày nay không hiện ra trực tiếp để nói, để dạy dỗ giáo huấn con người, nhưng những thông điệp và ý muốn  của Ngài được tỏ lộ qua các dấu chỉ của thời đại. Tin mừng nói đến những kinh nghiệm của người Do Thái: Khi thấy mây từ biển Địa Trung Hải ("mây kéo lên ở phía tây), thì người ta biết được mưa sắp đến; khi thấy luồn gió từ phương nam thổi đến (Gió nóng vùng Ả Rập), thì người ta biết tiết trời sẽ oi bức. Việt nam chúng ta cũng có những kinh nghiệm như thế: Gió đàng đông vác giồng mà chạy... ; Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa; trăng cuồng thì hạn ... 


Con người rất nhạy bén với những dấu chỉ đó, nhưng còn những dấu chỉ khác thì con người, vô tình hay hữu ý, thiếu đi sự nhạy bén, nếu không nói là hờ hững. Nhật báo Quảng Châu đưa tin một bé gái bị xe tải tông nằm bên đường, vậy mà 18 người đi qua không hề cứu giúp, mặc em bé khóc thét vì đau đớn. Cuối cùng chỉ có người nhặt rác đến nâng bé dậy.  Và việc làm đó đã gây ra cho bà nhiều sự chế giễu ... (xem thêm từ http://vn.news.yahoo.com/ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ph%E1%BB%A5-n%E1%BB%AF-c%E1%BB%A9u-b%C3%A9-duy%E1%BB%87t-duy%E1%BB%87t-b%E1%BB%8F-050300618.html).
Sự kiện đó nói lên tâm hồn con người thời đại ngày nay hình như chai đá hơn, ích lỷ hơn, sợ rắc rối cho mình. Và nói lên một sự suy thoái đạo đức, một nền giáo dục cần phải nhìn lại. Những lụt lội, giông bão, những bạo hành học đường, bạo hành gia đình, quan tham, mãi lộ giao thông, căn bệnh thế kỷ... là những dấu chỉ Thiên Chúa gởi đến mời gọi con người cần phải chăm lo xây dựng trái đất, sống yêu thương, sống đúng theo lương tâm, tôn trọng nền luân lý một vợ một chồng...
 
Những dấu hiệu hướng ngoại, chạy theo danh vọng tiền tài, quyền lực của một số người cũng là lời mời gọi để người sống đời thánh hiến biết mở to mắt để nhìn lại, mở lớn tai để nghe, hầu biết vun đắp, xây dựng đời sống nội tâm, gắn kết với lối sống mà Đức Giêsu đã muốn nơi họ.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Thằng Súc Sinh

Từ trên giàn giá cao 2 thanh niên bước xuống, cầm theo 2 tấm ván để tải gạch. Một anh vạm vỡ khỏe mạnh, độ 20 tuổi, còn cậu kia thì bé hơn nhiều. Vừa xuống đến sân, cậu bé hỏi ngay: “Anh Long, hình như anh có vẻ mệt?”. Người thanh niên tên Long trả lời nhát gừng: “À, tại tao hơi đau lưng, lại thêm cái chứng nhức đầu!” Cậu bé liền ân cần nói: “Thôi, vậy anh nghỉ đi, để em làm thay cho...”
Long thấy lời nói dối của mình hiệu nghiệm, anh ta khoái trá ngồi xuống xem thằng bé gầy gò yếu ớt ấy sẽ xoay trở thế nào. Anh ta không khỏi ngạc nhiên thầm nghĩ: "Cái thằng lạ thật! Đã mấy lần mình bạt tai ăn hiếp nó, vậy mà cái lúc mình suýt chết đuối trên sông, nó lại liều mạng cứu mình, ai cũng tưởng nó đi đứt vì sặc nước. Lại còn chuyện mình đã ăn cắp tiền, ai cũng nghĩ nó lấy nên bắt nhốt nó hai tuần liền, vậy mà khi thả ra, nó chỉ nói nhỏ với mình là nó sẽ không tố giác mình, chỉ vì sợ mẹ mình biết thì sẽ đau khổ lắm... Thế rồi vì thế mà nó bị bị sa thải suốt 6 tháng, thiếu thốn khổ sở quá chừng. Vậy mà, bây giờ nó vẫn cứ tự nhiên với mình. Hôm nay, mình giả vờ bệnh, nó lại còn gánh thay cho mình nữa chứ! Thật không thể hiểu nổi cái thằng này!"
Đang lúc Long ngồi chơi nghĩ vẩn vơ thì cậu bé phải khó nhọc lắm mới xốc được lên lưng số gạch gần như nhiều gấp đôi. Nó từ từ bước lên giàn xây dựng. Long nhìn theo với ánh mắt láu lỉnh vì đã gạt được thằng bé. Bất chợt, có tiếng người đốc công nóng nảy quát: “Gạch đâu? Sao chưa thấy thằng nào mang lên thế này?”
Cậu bé nghe vậy thì gắng bước nhanh hơn. Thế nhưng, tấm ván tải gạch quá nặng, mà sức nó thì có là bao, từ sáng đến giờ lại chẳng bỏ bụng hạt cơm nào. Nó chợt thấy lảo đảo, mắt hoa đi, hai chân gần như khuỵu xuống... Ở dưới, nhìn thấy thế, Long hét lên:
 “Trời ơi! Thằng-Súc-Sinh!” Vâng, chính cậu bé ấy tên là “Thằng-Súc-Sinh”, nó đã ngã nhào từ tầng nhà thứ hai xuống, đống gạch đè chụp lên. Các công nhân chạy ào lại, bới đống gạch ra thì thấy cậu bé thân thể bị giập nát đẫm máu, chỉ còn thoi thóp!
Có người vội chạy đi mời Cha Sở. Khi ngài đến, Thằng-Súc-Sinh mở mắt đăm đăm, hết nhìn ngài lại nhìn Long, thều thào: “Thưa cha, cái gai thứ 14, anh Long ơi... cái gai cuối cùng!”
Một khoảnh khắc trôi qua, Long òa khóc: “Chúa ơi, Thằng-Súc-Sinh nó chết rồi!” Cha Sở lặng lẽ làm dấu Thánh Giá trên trán thằng bé, rồi cởi khuy áo nó để lấy cỗ tràng hạt nó đeo ở cổ, cuộn vào hai bàn tay trầy trụa rướm máu của nó.
Ngài chợt bắt gặp một chiếc túi vải nhỏ thêu đính vào mặt trong áo. Và ngài nhẹ tay mở ra và thấy có một tờ giấy đôi đã cũ có một hình Trái Tim Chúa Giê-su với 14 cái gai, có lẽ do thằng bé đã cố gắng vẽ thật nắn nót, những cái gai đã lần lượt bị vụng về tẩy xóa đi, chỉ còn lại có một cái.
Bên cạnh lại có thêm một hình trái tim nhỏ hơn, với nét chữ nguệch ngoạc: trái tim của Súc-Sinh, với 13 cái gai hình như đã được vẽ thêm dần dần trong nhiều lần với mầu mực khác nhau.
Phía dưới có hàng chữ: Ngày tôi được Rước Lễ Lần Đầu, tôi đã hứa với Chúa Giê-su rằng: tôi sẽ lần lượt rút hết những cái gai đâm vào trái tim của Người, để ghim thay vào trái tim tôi!
Còn bên trang kia của tờ giấy thì đầy nghẹt những hàng chữ li ti, chỉ còn lại hàng cuối cùng để trống:
• Gai thứ nhất: Con đã hết cứng đầu, không cãi lời dì con nữa.
• Gai thứ hai: Con đã chịu nhịn đói 3 ngày vì bị phạt oan.
• Gai thứ ba: Lần đầu con đã làm ra tiền, con đã dùng để xin lễ cầu cho dì con mới qua đời.
• Gai thứ tư: Con đã nhịn không mua nước đá để uống cho đã khát.
• Gai thứ năm: Con mua một bó hoa đẹp từ chỗ tiền dành dụm để đến thăm mộ dì con.
• Gai thứ sáu: Con đã chịu một trận đòn vì dám bênh vực một thằng bé tật nguyền bị đám trẻ trong xóm ăn hiếp.
• Gai thứ bảy: Mỗi ngày con gánh nước giúp cho một cụ già yếu đau ở cuối xóm.
• Gai thứ tám: Con đã xin vào học Lớp Tình Thương nhưng ông chủ không cho, lại còn đánh mắng con.
• Gai thứ chín: Con đã đến chăm sóc và kịp rửa tội cho bà cụ già ở cuối xóm trước khi bà ấy mất.
• Gai thứ mười: Anh Long suýt chết đuối, con đã nhảy xuống sông cứu được anh ấy mặc dù con không biết bơi.
• Gai thứ mười một: Con có nhặt được một con chó hoang đói lả ngoài đường. Nuôi nó đến nay gần một năm, thì ông chủ bắt đem làm thịt để nhậu với đám thợ.
• Gai thứ mười hai: Con bị nhốt oan 2 tuần vì muốn nhận tội thay cho anh Long để mẹ anh ấy không phải đau khổ vì biết anh ấy đã ăn cắp tiền.
• Gai thứ mười ba: Con đành chịu nhận phần lương thiệt thòi, dù người ta đồn rằng ông chủ đã bóc lột con.
• Gai thứ mười bốn: ...
Cha Sở ngậm ngùi khóc, không cần ai phải giải thích về tờ giấy đôi ấy nữa. Cậu bé bị quen gọi là “Thằng-Súc-Sinh” vẫn nằm đó, nước da tái nhợt nhưng khuôn mặt thì rạng rỡ, dường như đang mỉm cười mãn nguyện. Cha Sở nhận ra Trái Tim Chúa Giê-su giờ đây không còn một chiếc gai nào đâm thâu nữa. “Thằng-Súc-Sinh” đã lấy tình yêu để trả giá bằng một đời sống đau khổ tủi nhục, bằng từng cái gai, bằng từng giọt nước mắt!
Nhưng, tại sao một cậu bé như thế lại mang một cái tên nguyền rủa phỉ báng như thế nhỉ? Bố mẹ thằng bé đã cùng bị tai nạn chết khi em vừa tròn 2 tuổi, em bơ vơ không nhà như con chim non bị ném ra ngoài tổ ấm. Có một người đàn bà góa không con đã nhận em về nuôi một cách tận tâm.
Thế nhưng, một chuyện đáng tiếc xảy ra đã làm thay đổi hẳn mối quan hệ tốt đẹp ấy. Thằng bé vốn rất thích ngửi hoa thơm. Trên cửa sổ căn phòng của bà có một chiếc bình hoa quý vừa đẹp vừa thơm. Một hôm, thằng bé hiếu kỳ đã trèo lên một cái ghế đẩu để cố với tới gần mà ngửi đóa hoa vừa nở. 
Chiếc ghế nghiêng đổ, thằng bé ngã nhào, níu lấy bình hoa. Bà dì nuôi nghe tiếng đổ vỡ, chạy vào, đứng lặng người trước cảnh ấy. Bà tiếc chiếc bình hoa đến nỗi không kịp nghĩ đến đứa con nuôi 6 tuổi đang nằm dưới đất, khóc thét lên vì sợ hãi và đau đớn. Bà chạy đến, túm lấy tóc thằng bé, vừa đánh tụi bụi vừa chửi rủa: “Quân mất dạy! Đồ súc sinh! Mày đúng là Thằng-Súc-Sinh!”
Từ ngày đó, chẳng ai trong xóm còn biết hoặc nhớ đến thằng bé có một cái tên nào khác ngào 3 chữ “Thằng-Súc-Sinh”. Thằng bé buồn tủi ghê lắm, vừa sợ bà dì đánh mắng, lại vừa âm thầm phẫn uất, nó trở nên bướng bỉnh ngang ngược. Cũng do vậy, nó lại càng bị đòn dữ tợn và thường xuyên hơn. Nó thù ghét mọi người nên tìm mọi cách tai ác để khiến ai cũng phải tức giận về nó.
Ở trường, nơi nó được học vỏn vẹn có một năm, thì Thằng-Súc-Sinh là một gánh nặng cho các thầy cô giáo. Tống nó khỏi cửa lớp, nó lại trèo cửa sổ nhảy tọt vào trong. Hầu như nó không chịu học hành gì cả. Nó có chịu ngồi yên cũng chỉ là để vẽ nguệch ngoạc dọc ngang khắp các trang sách và trên mặt bàn.
Dĩ nhiên, Thằng-Súc-Sinh cũng không vắng mặt ở lớp Giáo Lý. Khổ nỗi, nó có đến lớp cũng chỉ cốt để phá phách không cho bạn cùng lứa có thể ngồi yên mà học hành kinh bổn. Cha Sở đã làm đủ mọi cách để dạy dỗ nó mà không xong, cuối cùng thì Ngài đành lờ đi, kệ cho nó muốn làm gì thì làm, coi như không có nó hiện diện...
Nhưng rồi đến cuối niên khóa Giáo Lý năm ngoái, một buổi tối, Cha Sở đọc danh sách các em được Xưng Tội và Rước Lễ Lần Đầu. Đương nhiên là không thể có tên Thằng-Súc-Sinh! Khi Ngài bước ra khỏi lớp, nó đã chạy vòng ra đứng chặn trò chơi mặt Ngài mà hỏi bằng một giọng cương quyết: “Thưa Cha, tại sao con lại không có tên?”
Cha Sở bất giác nhìn đăm đăm thằng bé bất hạnh, rồi không hiểu vì sao ngài lại mỉm cười khoan dung: “Được, con cũng sẽ được Xưng Tội và Rước Lễ Lần Đầu!” Không kịp nghe hết câu, Thằng-Súc-Sinh đã bỏ chạy như bay ra khỏi nhà xứ. Nó băng mình đến cánh đồng cỏ hoang ngoài rìa làng, lăn mình nằm dài trên thảm cỏ đã bắt đầu đẫm ướt sương đêm, dõi mắt nhìn bầu trời đầy sao, mãi cho đến khuya mới lững thững về nhà.
Hôm sau, trước khi cho phép Thằng-Súc-Sinh đi xưng tội, dì nuôi nó nghĩ rằng phải có bổn phận dạy dỗ khuyên bảo nó vài lời. Bà bảo nó mà mắt nhìn đi chỗ khác: “Thằng-Súc-Sinh, mày phải nhớ: từ nay lo mà đổi tính sửa nết nghe chưa? Mày không đùa được với Chúa đâu!” Và sau đó, người ta ngạc nhiên thấy Thằng-Súc-Sinh xưng tội rất lâu với Cha Sở. Thiên Chúa đã lắng nghe những nỗi lòng bí ẩn của đứa bé bị cuộc đời ruồng bỏ...
Tới ngày Rước Lễ Lần Đầu, Cha Sở khuyên nhủ chung cả lớp Giáo Lý rằng từ đây các em phải nhớ cố gắng sống cho dễ thương ngoan ngoãn, làm nhiều việc tốt để có thể xoa dịu nỗi đau Thánh Tâm Chúa Giê-su vì những tội lỗi của loài người...
Khi các em đã về hết, Thằng-Súc-Sinh ở lại một mình trong Nhà Thờ. Nó mon men lại gần mẫu ảnh Thánh Tâm Chúa Giê-su, kiễng chân lên chăm chú nhìn thật kỹ mọi chi tiết bức ảnh hồi lâu. Trở về nhà, đang khi những đứa tuổi khác còn mải vui đón bữa tiệc mừng lễ thì Thằng-Súc-Sinh lục tìm một tờ giấy đôi còn mới, một cây bút chì tốt, rồi không nói với ai một lời, nó phóng thẳng ra cánh đồng mọi khi. Chính nơi đó nó đã vẽ hình hai trái tim, một của Chúa, một của nó...
Đến tối, khi trở về nhà, thằng bé đã không còn là Thằng-Súc-Sinh nữa, nhưng là một em bé đã quy hướng trọn vẹn ý chí và tâm hồn non nớt ngây thơ vào Chúa Giê-su. Nó quyết sẽ gỡ cho đến hết những cái gai đang ghim sâu nơi Trái Tim Chúa Giê-su. Đối với bà dì nuôi nó, dẫu sao nó cũng vẫn bị coi là Thằng-Súc-Sinh, thì bà không hề nhận ra sự đổi thay kỳ diệu nơi nó, bà vẫn đánh mắng hành hạ nó như thói quen lâu nay...
Đến mùa thu vừa rồi, bà dì ngã bệnh vì cảm lạnh ngày một trầm trọng. Bà ngạc nhiên vì Thằng-Súc-Sinh vẫn tận tụy ở bên cạnh mà không bỏ rơi hay vắng mặt đến một phút. Một hôm, nước mắt chạy quanh, nó nói với bà: “Dì ơi, con sợ dì sẽ không qua khỏi, mà không có dì thì đời con sẽ ra sao?” Bà chăm chú nhìn nó, vừa cảm động vừa ân hận, bà không thể hiểu nổi thằng bé, nó tỏ ra thật sự thương yêu quyến luyến với bà mặc dù bà chưa bao giờ nói được một lời tử tế với nó. Bà bất chợt ôm ghì đứa bé côi cút vào lòng mà nghẹn ngào: “Con ơi, con là một đứa bé tốt. Con hãy cầu nguyện, xin Chúa nhân từ tha thứ mọi tội lỗi cho dì nhé con!”
Chính lúc này, Thằng-Súc-Sinh nhận ra cuộc đời nó còn rất diễm phúc. Đây là lần đầu tiên dì nó âu yếm trìu mến nó như con đẻ, lại còn khen nó tốt nữa! Cái giây phút ấy xóa tan mọi mặc cảm tủi nhục xót xa trước đây... Khi dì nó qua đời, nó bắt đầu phải sống lang thang, thiếu thốn mọi điều. Nhưng, ý nghĩ hướng về Trái Tim bị thương tích của Chúa Giê-su đã điều khiển mọi hành vi và suy tư của cuộc đời thằng bé.
Và bây giờ, thế là hết, Thằng-Súc-Sinh đã trả giá cho “cái gai cuối cùng” ấy bằng chính cái chết. Thằng bé ra đi hạnh phúc, không ngờ mình đã nên thánh, một vị thánh bé nhỏ hồn nhiên...
Chiều tối hôm tang lễ của Thằng-Súc-Sinh vừa xong, anh thanh niên tên Long đã tới xin gặp riêng Cha Sở, vừa mếu máo vừa thú nhận tất cả, từ chuyện anh ta ăn cắp làm cho Thằng-Súc-Sinh bị bắt oan, cho đến chuyện anh ta giả vờ bệnh để cậu bé phải làm thay. Tâm hồn Long đã mở ra. Chắc chắn ở trên Nước Trời, Thằng-Súc-Sinh đã cầu nguyện cho Long trước hết. Long đã đền bồi lại những lỗi lầm đã phạm. Long bắt đầu một cuộc sống mới. Anh ra về trong niềm hân hoan và biết ơn người bạn bé nhỏ...
Cha Sở lấy bút ghi thật trân trọng vào hàng kẻ thứ mười bốn:Để gánh đỡ cho anh Long, con đã tự nguyện mang lượng gạch nhiều gấp đôi, và con đã chết vì tai nạn!
Vài ngày sau, người ta thấy trên bàn viết của Cha Sở một khung ảnh bằng kính, lồng trong đó là tờ giấy đôi mở rộng của Thằng-Súc-Sinh với hàng chữ ghi chú bên dưới: Đây là Giao Ước của Thằng-Súc-Sinh với Thánh Tâm Chúa Giê-su”.
Vâng, cậu bé đã trở nên một bài giảng thuyết sống động, hùng hồn và sâu xa nhất mà tâm hồn vị Linh Mục già cũng như tất cả mọi người hiểu biết đầu đuôi câu chuyện phải lắng nghe và ghi nhớ đến trọn đời...
Phỏng theo một truyện ngắn của Ba-lan (mehangcuugiup.org)

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

Người môn đệ

Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Ðừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: ‘Bình an cho nhà này!’ Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Ðừng đi hết nhà nọ đến nhà kia... (Lc 10,1-9)

Người môn đệ của Giêsu phải là người thanh thoát, không dính bén những của cải vật chất trần gian, cũng như những tình cảm chóng qua có thể gặp trên đường loan báo Tin mừng. "Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường..." nhưng hãy luôn nở trên môi nụ cười và mang trong tim tình thương yêu của Giêsu, để khi gặp bất cứ ai, hay ngụ lại bất cứ nhà nào thì hãy chúc lành cho họ: "Bình an cho nhà này!". Một tâm hồn thanh thoát, tự do, không la cà "hết nhà nọ đến nhà kia", vì điều đó sẽ cản trở và làm chậm bước đi của người môn đệ trên hành trình loan báo Tin mừng, làm chứng cho Chúa giữa cuộc trần này.
Người môn đệ là người luôn có trái tim nhân hậu, luôn có một tâm hồn nhạy cảm trước những nỗi khổ đau của người nghèo - nghèo về của cải, nghèo về sức khoẻ, nghèo về tâm linh và nghèo về phẩm giá. Vì thế, như Luca luôn nhắc đến một Giêsu giàu lòng thương xót, hay cứu giúp kẻ cô thế cô thân, thì người môn đệ cũng hãy tiếp nối bước chân của Thầy mình để đến với người nghèo, mang tình thương, sự tha thứ và niềm vui đến với họ...

Hồi Tâm

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Tổng lãnh Thiên Thần

Thiên thần của Thiên Chúa (Ga 1,47-51) - Thứ năm ngày 29/9 TNA
Hôm nay Giáo hội mừng kính các tướng lĩnh của Thiên Chúa: Tổng lãnh Thiên thần Micaen – Gabrien – Raphaen thống lĩnh toàn bộ các cơ binh trên trời. Vậy các thiên thần là loài nào ? Và làm sao để có thể nhận biết, và như Giacóp, mơ thấy “các thiên thần lên lên xuống xuống” trên một cái thang chạm tới trời (St 28,12)? Hay làm thế nào để cũng được Chúa hứa rằng “các anh sẽ thấy các thiên thần lên lên xuống xuống trên Con Người” (c. 51).
Các thiên thần là những loài thụ tạo nhưng không hữu hình như con người. Trong kinh Tin kính nói đến một Thiên Chúa duy nhất dựng nên muôn vật “hữu hình” và “vô hình”. Vì là thụ tạo vô hình, nên các thiên thần cũng có đủ các mối tương quan với Thiên Chúa và với con người là những thụ tạo hữu hình.
Các thiên thần có mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa, luôn chầu chực và sẵn sàng phục vụ Ngài. Trong Cựu Ước, Abraham đã tiếp đón ba vị khách lạ chính là ba thiên thần được Chúa sai đến để báo tin rằng vợ ông, bà Sara tuy già nua lọm khọm nhưng sẽ sinh cho ông một con trai. Trong Tân Ước, Khi Giacaria đang cầu nguyện trước nhan thánh Chúa, thì sứ thần Gabrien đã hiện đến báo tin rằng vợ ông cũng sinh con trai trong lúc tuổi già. Chúng ta cũng có thể gặp thấy “muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa” ngay khi Ngôi Lời nhập thể giáng sinh (Lc 2,13); khi Chúa Giêsu thắng vượt ba cơm cám dỗ trong sa mạc thì có “các thiên thần đến hầu hạ Người” (Mt 4,11); khi Chúa Giêsu sợ hãi trong vườn cây Dầu thì “có thiên sứ tự trời hiện đến tăng sức cho Người” (Lc 22,43) và trước lối phản ứng đầy tính bạo động của môn đệ, Chúa đã nói: “Hãy xỏ gươm vào vỏ… anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần !” (Mt 26,52-53). Và các thiên thần còn làm nhiệm vụ loan báo Tin mừng Phục Sinh, cùng với Chúa xét xử thế giới… (x. Lc 24,6; Mt 16,27; Dt 1,4.6).
Bên cạnh đó, các thiên thần cũng rất gần gũi với loài người, vì các ngài được Thiên Chúa sai đến để che chở, phù trợ con người, đó là các thiên thần hộ thủ của mỗi người mà chúng ta sẽ mừng kính trong ngày 2.10 sắp tới. Ở trong sách Tôbia, chúng ta gặp thấy thiên thần Raphaen đã đến để chữa lành đôi mắt mù loà cho ông Tôbít và bà Xara vợ ông khỏi ác quỷ Atmôđai (Tb 3,17); Thiên thần Gabrien thì được Chúa sai đến gặp gỡ Maria để loan báo sự hạ sinh của Đấng Cứu Thế (Lc 1,26). Và biết bao nhiêu câu chuyện về các thiên thần hộ thủ luôn sẵn sàng bênh vực che chở con người mà chúng ta vẫn thường đọc nghe đây đó.
Như thế, các thiên thần, loài thụ tạo vô hình, có tương quan mật thiết với Thiên Chúa và gần gũi với cuộc sống con người. Gần gũi với Thiên Chúa để dâng lên Ngài những nỗi thống khổ của con người. Gần gũi với con người để chuyển giao sứ điệp và ân lộc của Thiên Chúa. Các ngài như là trung gian nối kết giữa Thiên Chúa với loài người, qua Thiên Chúa mà phục vụ con người.  
Các thiên thần gần gũi như thế đó, nhưng con người chúng ta khó có thể gặp thấy thiên thần (chỉ có đàn ông con trai là hay gặp được các thiên thần. Ôi! Thiên thần của lòng anh!... không biết phụ nữa thì có hay gặp không ???) nhưng chúng ta có thể gặp thấy “tâm hồn thiên thần”. Đó là gặp thấy những con người có tâm hồn như Nathanaen mà Tin mừng hôm nay đề cập. Một tâm hồn trong sáng, thanh thản, an bình, thư thái “ngồi dưới gốc cây vả”. Một tâm hồn mà “lòng dạ không có gì gian dối” như Chúa Giêsu đã khen (c.47b). Một tâm hồn trung thực. Một tâm hồn luôn hướng về những sự cao siêu, vượt thoát những sự tầm thường của thế trần. Tâm hồn như thế sẽ thấy được những điều lớn lao, không những sẽ thấy các thiên thần mà còn được nhìn thấy Thiên Chúa. “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8).
Những năm tháng vừa qua chúng ta thường nghe nói đến các sư giả, linh mục giả, tu sĩ giả. Đó là những người đội lốt người khác để lừa lọc người ta. Nói sư giả, linh mục giả hay tu sĩ giả thì rất oan cho họ. Vì họ không phải là nhà sư hay là tu sĩ thực thụ. Họ chỉ là những người bình thường đã giả làm sư, giả làm tu sĩ mà thôi. Nên gọi họ là giả sư, giả cha, giả xơ thì đúng hơn. Gọi thế để phân biệt với các Kitô hữu giả hiệu mà Kinh thánh đã nói đến. Họ chính là những Kitô hữu thực sự nhưng không sống đúng như lối sống của người Kitô, nên trở thành Kitô giả, tu sĩ giả, linh mục giả, chứ không phải là giả tu sĩ hay giả Kitô hữu…
Trong ngày lễ kính các Tổng lãnh Thiên thần hôm nay, ước gì mỗi Kitô hữu (trong mọi bậc sống) sẽ là Kitô hữu đích thực, nghĩa là luôn canh chừng lòng mình khỏi những đam mê ích kỷ, hận thù ghen ghét, biết phấn đấu đạt đến tâm hồn của những thiên thần, là có lòng nhân hậu, yêu mến những sự tốt lành, luôn biết mơ ước đến trời cao, vượt thoát được sự kìm hãm của vật chất, danh vọng, quyền thế, những cái có thể làm tâm hồn trở nên khô héo, chai lì, tầm thường… để khi gặp gỡ Chúa cũng được Chúa khen: Đây đích thực là một Kitô hữu, trong lòng không chút gian dối, sẽ được thấy trời rộng mở và thấy các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Ghen tị

Chia sẻ Tin Mừng Mt 20,1-16a
Xuyên suốt Tin Mừng Mt từ chương 18 đến chương 20, Thiên Chúa luôn biểu lộ tình thương của Ngài và dạy cho chúng ta bài học của lòng nhân hậu. Cuộc sống là sự sẻ chia, nâng đỡ và giúp nhau khi tối lửa tắt đèn, chúng ta gọi đó là tình làng nghĩa xóm.
Trong Tin Mừng Mt 18,15-20, Chúa dạy chúng ta hãy bao dung với lỗi lầm của người cạnh bên và cách thức sửa đổi những lầm lạc của người ta : “Nếu người anh em ngươi phạm tội, hãy đi sửa lỗi, chỉ một mình ngươi với nó…” để giữ thể diện cho người anh em ngươi, như thế ngươi được lợi người anh em mình. Và, từ câu 21-35, Chúa cũng dạy chúng ta hãy thương yêu người đồng loại và tha thứ cho họ, không những 7 lần mà là 70 lần 7, nghĩa là tha thứ mỗi ngày, tha thứ mãi mãi khi họ chạy đến với mình. “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh kẻ chạy lại”. Một khi “quay đầu là bờ”thì sẵn sàng giang rộng vòng tay tha thứ. Trong chương 20,1-16a, Chúa lại dùng dụ ngôn “người thợ làm vườn nho” để tiếp tục giáo huấn chúng ta về lòng thương yêu nhân hậu, tránh lối sống ghen ghét, tị nạnh giữa người với người.
Tin Mừng kể lại, ông chủ từ sáng sớm đã ra chợ mướn người làm. Đến giờ thứ 3, giờ thứ 6, và giờ thứ 9, nghĩa là khoảng 9g, 11g và 3 giờ chiều ông cũng tiếp tục mướn người làm, đủ thấy rằng công việc cần gấp. Và, giờ thứ 11, tức là 5g chiều, ông trở ra chợ, tạo công ăn việc làm cho những người không ai thuê mướn nữa vì đã cuối ngày (6g thì nghỉ việc). Họ đứng đó với hy vọng rất mong manh, mong sao kiếm được miếng cơm manh áo về cho gia đình, vợ con. Chợ người trong Tin Mừng hôm nay cũng giống như chợ người của Việt Nam chúng ta. Không phải là “chợ bán người” ở đường Nguyễn Chí Thanh, thuộc phường 2 quận 10 – một tệ nạn xã hội – như trang mạng vietbao.com đã phản ánh, mà là chợ người ở Nghĩa Lộ, Yên Bái. Họ phần lớn là những người nghèo khổ, đến chợ này với mong muốn được có ai thuê mướn kiếm tiền nuôi gia đình, bản thân. Chợ người cũng khắt khe như thị trường hàng hóa khác. Người nào to khỏe có nhiều việc làm, bán được nhiều sức, nhiều khách đến "mua". Những người còi cọc, thấp bé ít khách chọn hơn. Số phận của họ cũng giống như số phận của những người thợ cuối ngày, giờ thứ 11, không ai thuê mướn…
Và ông chủ vườn nho thương đến những người muộn màng này và đã thuê mướn họ.
Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Vườn nho tượng trưng cho Nước Chúa. Người được thuê là người được mời gọi vào Nước Chúa. Tiền lương là sự sống trong Nước Chúa. Hình ảnh ông chủ ngày ngày ra chợ tìm thuê thợ là hình ảnh của Chúa yêu thương. Không phải ta đi tìm Chúa, nhưng chính Chúa đi tìm ta. Không phải tìm một lần mà tìm suốt ngày, từ giờ này sang giờ khác. Nếu những người được thuê vào buổi sáng sớm tượng trưng cho những người có số phận may mắn, có khả năng hơn người, thì những người được thuê vào cuối ngày tượng trưng cho những người kém may mắn, kém khả năng, bị thiệt thòi trong xã hội. Việc Chúa thuê hết mọi người từ sáng sớm cho đến chiều tà, từ người sang đến kẻ hèn, từ người tài giỏi đến những người kém cỏi, từ người khỏe mạnh đến người yếu kém, tất cả nói lên lòng yêu thương của Chúa. Chúa muốn mời gọi hết mọi người, mong muốn hết mọi người được ơn cứu độ, được hưởng hạnh phúc trong Nước Chúa.
Những người thợ làm từ sáng sớm không có gì để kêu trách Chúa về tiền lương, vì đã được thỏa thuận từ trước. Họ chỉ kêu trách vì thấy người làm ít cũng được như mình. Họ ghen tị. Họ kêu trách lòng nhân từ của Chúa. Đó là điều vô lý. Và Chúa đã nêu rõ điểm vô lý đó: Tại sao kêu trách vì tôi tốt bụng? Phần mình đã được rồi, tại sao không vui mừng vì những anh em kém cỏi, kém may mắn cũng được ân huệ vào phút chót. Qua điều này Chúa muốn dạy ta hãy biết yêu thương những người kém cỏi, bé nhỏ, nghèo hèn. Một xã hội muốn tốt đẹp phải biết giúp đỡ những người bé nhỏ. Một xã hội chỉ thực sự văn minh khi biết quan tâm tới những người kém may mắn. Nếu chỉ nghĩ đến bản thân mình ta sẽ thấy cuộc đời chỉ toàn bất công. Nếu biết nghĩ đến người khác, ta sẽ thấy cuộc đời thật đẹp đẽ vì chan chứa tình người.
Ước gì Lời Chúa như dòng suối nhân hậu chảy tràn và thấm nhuần vào tâm hồn mỗi chúng ta, để trong cuộc sống, ta cũng biết quan tâm đến nhau, nâng đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn hầu tình làng nghĩa xóm luôn thắm đượm như than hồng trong bếp lửa. Than chỉ hồng khi nằm gần cạnh nhau trong bếp lửa; than sẽ tắt khi nằm trơ trọi một mình ngoài bếp lửa. Và ước gì những ông chủ của xã hội ngày hôm nay cũng bắt chước ông chủ trong Tin Mừng: cư xử với công nhân, với người làm không chỉ dựa trên sự công bằng nhưng còn dựa vào lòng nhân hậu, là quan tâm đến hoàn cảnh cụ thể của người thuộc quyền mình.

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

Đêm xuân Hội Ngộ

Tối mồng 4 tết Tân Mão, được sự gợi ý của Cha Chánh xứ, tất cả các tu sĩ và sinh viên của Giáo xứ Bác Ái, Giáo phận Ban Mê thuột đã tổ chức đêm văn nghệ với chủ đề "Xuân Hội Ngộ".
Đêm văn nghệ được các nhóm Sinh viên học ở Sài Gòn (4 nhóm), Sinh viên học ở Đồng Nai, Sinh viên học ở Bình Dương, Sinh viên học ở Đăklăk, các em đệ tử Nha Trang và các tu sĩ thuộc nhiều dòng khác nhau diễn trình với nhiều tiết mục thuộc dạng "Mì ăn liền" (vì thời gian tập dượt chỉ có vài ba ngày trước tết. Quá ngắn ngủi!) nhưng rất đặc sắc và thành công tốt đẹp.
Thật tiếc là thẻ nhớ có hạn nên chỉ quay được một vài tiết mục. Mong các bạn cảm thông.
 

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Tiếng gọi

Chia sẻ Lời Chúa – Gx. Mỹ Phước
Địa lý nước Do Thái chia làm ba miền. Miền Nam được gọi là Giuđêa. Miền Trung là Samaria. Miền Bắc là Galilêa. Thủ đô Giêrusalem thuộc về miền Nam. Đây là trung tâm chính trị và tôn giáo. Vua Hêrôđê đóng đô ở Giêrusalem. Đền thờ Giêrusalem là trái tim của dân tộc Do Thái. Hằng năm người ở mọi miền tuốn về Giêrusalem dự lễ. Đây cũng là nơi quy tụ quyền lực tôn giáo. Có dinh thầy cả thượng phẩm. Có các luật sĩ, biệt phái, văn nhân. Người ở Giuđêa coi Giêrusalem là đền thờ duy nhất, đạo ở Giuđêa là chính thống. Họ tẩy chay người ở Samaria, coi Samaria là ngoại đạo vì người ở Samaria xây cất đền thờ riêng trên núi Garidim. Người ở Giuđêa không bao giờ đi lại tiếp xúc với người Samaria. Còn miền Galilêa ở phía Bắc, tuy không có đền thờ đối nghịch với Giuđêa, nhưng bị Giuđêa khinh miệt vì đó là nơi pha tạp đủ mọi sắc dân, là đất của dân ngoại.
Khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã không chọn rao giảng tại Giêrusalem. Bởi vì Giêrusalem là vùng toàn tòng theo đạo, nhưng lại rất kiêu căng và luôn tìm cách loại trừ người khác. Khi mới sinh ra, Chúa Giêsu đã phải chạy trốn bạo vương Hêrôđê. Hôm nay Hêrôđê con ông lại ra lệnh giết thánh Gioan Baotixita chỉ để thỏa mãn ước vọng ngông cuồng của một phụ nữ. Chúa Giêsu đã không chọn Giêrusalem làm điểm xuất phát, bởi vì các thầy thượng tế, các văn nhân, luật sĩ, biệt phái đã chai đá, luôn tìm cách bắt bẻ, chứ không biết mở rộng tâm hồn đón nhận giáo lý của Người.
Người đã chọn Galilêa vì Galilêa là vùng quê nghèo khiêm tốn, nhưng dân cư thuộc đủ mọi chủng tộc đã biết mở lòng đón nhận giáo lý của Người. Người đã chọn Galilêa vì ở đây không có loại trừ, mọi người biết đón nhận nhau, chung sống hòa thuận. Người đã chọn Galilêa vì Galilêa là vùng đất bị khinh miệt, dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội.
Phải chăng miền đất Galilê cũng là miền đất tâm hồn của mỗi người chúng ta nơi xứ sở này, một xứ sở mà phần lớn chúng ta đến đây nhập cư sinh sống? Nhìn về miền đất Galilê, nhìn lại tâm hồn mỗi một kitô hữu ngày hôm nay, chúng ta thấy có nhiều điểm tương đồng: Galiê là nơi pha tạp đủ mọi sắc dân, tâm hồn kitô hữu ngày nay cũng đang bị pha tạp ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hoá vùng miền khác nhau; lối sống của kitô hữu ngày nay không còn bó gọn trong gia đình, làng xã, trong những tập tục đông phương nhưng đang bị ảnh hưởng bởi quan niệm và lối sống của phương tây nên lối sống đó không còn trong một xứ đạo toàn tòng mà vượt ra khỏi biên giới. Hơn nữa, những đợt sóng di dân đã làm người kitô hữu phân tán để rồi lại tập hợp dưới một vùng đât mới. Chính điều đó phá vỡ những gì là nét giữ đạo truyền thống và mở ra cho chúng ta một lối sống mới, bắt chúng ta đối diện với những đổi thay nhiều phức tạp của xã hội. cuộc sống đạo do đó cũng chịu nhiều ảnh hưởng. Và do đó, ngày xưa Chúa đã chọn Galilê để rao giảng Tin Mừng, thì ngày nay Chúa cũng chọn mỗi tâm hồn kitô hữu chúng ta, nơi pha tạp và du nhập nhiều lối sống của vùng miền văn hoá khác nhau, để rao giảng Tin Mừng và để mời gọi chúng ta cùng cộng tác với Người sống lối sống Tin Mừng.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, đang lúc đi dọc theo bờ biển, Ngài đã gọi Phêrô và Andrê: Các anh hãy theo tôi. Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá. Liền sau đó, Ngài cũng đã gọi Giacôbê và Gioan. Thái độ của những môn đệ đầu tiên này thật là mau mắn và dứt khoát. Các ông đã bỏ chài lưới, bỏ ghe thuyền, bỏ cha già mà đi theo Chúa.
Ngày hôm nay Chúa không hiện ra để kêu gọi chúng ta hay truyền dạy chúng ta phải làm điều nọ, điều kia, nhưng tiếng Chúa vẫn âm thầm gởi đến với chúng ta qua các sự kiện, qua các biến cố cuộc đời.
Ngày hôm nay, tiếng của Chúa bị lấn át bởi nhiều tiếng gọi khác của xã hội. Đó là tiếng gọi của cờ bạc, tiếng gọi của “Nàng tiên nâu” mà một số bạn trẻ và cả những người trưởng thành vẫn luôn đáp trả lại tiếng gọi đó để rồi huỷ hoại thân thể, sa vào vòng tù tội, phá vỡ hạnh phúc gia đình… Đó là tiếng gọi của quyền lực, của danh vọng mà một số người sẵn sàng lao vào đó để rồi dẫm đạp lên nhân phẩm của người khác, sẵn sàng phản bội lại bạn bè để mình có được một địa vị tốt, một công việc tốt… Đó còn là tiếng gọi của game online khiến cho các trẻ vị thành niên trở nên phờ phạc sau hàng giờ ngồi trên máy tính, internet, để rồi bỏ bê việc học, tâm hồn trở nên cục cằn thô bạo, sẵn sàng dùng bạo lực với bạn bè dù chỉ từ một xích mích nhỏ… Đó cũng là tiếng gọi của những đam mê bất chính khiến nhiều người từ bỏ cả vợ con bao nhiêu năm kết ước để ngoại tình, để tìm kiếm những cuộc tình chóng qua nhằm thoả mãn tính ích kỷ của mình… như thánh phaolô có nói: điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại cứ làm, còn điều tốt tôi muốn làm thì tôi lại không làm.
Nhưng cho dù cuộc sống phức tạp, cho dù những tiếng gọi đó luôn vang lên trước mắt chúng ta, áp đảo chúng ta, thì vẫn còn đó tiếng gọi của Chúa từ nơi sâu thẳm tâm hồn cũng luôn vang vọng. Đó là tiếng lương tâm bảo ta làm lành lánh dữ. Đó là những lúc chúng ta băn khoăn giữa hai chọn lựa: chọn làm điều tốt hay chọn theo điều xấu. Đó là những lúc chúng ta tỉnh dậy sau một cuộc truy hoan với bao nỗi chán chường vì bị lừa lọc. Đó là những khi ta gượng dậy trước những thất bại trong cuộc đời.
Chúa vẫn luôn mời gọi và đồng hành với chúng ta với ước mong sự đáp trả nơi chúng ta. Các môn đệ đã đáp lại tiếng gọi của Chúa, không phải bằng lời nói, nhưng bằng hành vi từ bỏ thực sự. Chúa không mời gọi mọi người từ bỏ gia đình để sống đời thánh hiến, nhưng Chúa lại mời gọi tất cả chúng ta bỏ tính ích kỷ và cứng cỏi của mình để sống yêu thương tha nhân. Bỏ cái gì ngoài mình, không phải là điều quá khó. Nhưng bỏ chính bản thân mình với những dự tính, ước mơ, điều đó khó hơn nhiều.
Nhiều khi chúng ta giả vờ không nghe tiếng Chúa để khỏi phải đáp lại, khỏi phải từ bỏ và đoạn tuyệt. Có nhiều tạo vật đang quấn lấy đời ta, không dễ gì gỡ được: Tiền bạc, sự ổn định, sự thoải mái tiện nghi, chút tiếng tăm địa vị, chút thoả mãn nơi thân xác… Từ bỏ là đặt mọi sự dưới Chúa, coi Ngài như giá trị cao nhất vượt trên mọi giá trị. Phải có tình yêu lớn lao mới có thể từ bỏ lập tức những gì chúng ta đang ôm ấp. Từ bỏ trở thành thước đo tình yêu của ta đối với Thiên Chúa. Đời người Kitô hữu là một cuộc lắng nghe không ngừng những tiếng gọi mời của Chúa. Hãy đi theo tiếng gọi của Chúa, của lương tâm. Amen

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

Bước xuống dòng đời

 


Hôm nay lễ Chúa Giêsu lãnh phép Rửa của Gioan tẩy Giả trong dòng nước sông Giođan. Vì muốn liên đới với các tội nhân, muốn hòa đồng với mọi người chung quanh, Ðức Giêsu đã khiêm tốn bước xuống dòng Giođan lãnh phép Rửa. Phép Rửa của Gioan là phép Rửa chuẩn bị cho mọi người bước vào thời đại Cứu thế. Thời đại Cứu thế là thời đại Thiên Chúa đổ tràn hồng ân, tha thứ và cứu độ con người. Ðức Giêsu Ðấng Cứu thế đã đến chia sẻ cuộc sống của con người, chứ không phải để phán xử "từ trên cao". Người khước từ thống trị, bạo lực, áp đặt. Người cứu độ con người bằng cách hạ mình đến tận cùng cho đến chết trên thập giá. Người cứu độ con người bằng cách bước vào lòng đời để chia sẻ, cảm thông với những khó khăn mà con người gặp phải trong mọi thời đại.
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp hoá. Bình Dương chúng ta là một trong những nơi “đất lành chim đậu”. Các nhà máy, công ty, xí nghiệp mọc lên như nấm thu hút hàng ngàn người từ các nơi tụ về làm công nhân, lập nghiệp, tạo nên một “quê hương thứ hai” cho đời con cháu. Nhưng cũng vì đất quá lành nên chim nào cũng đậu được. Chính vì thế mà các tệ nạn xã hội cũng đã nảy sinh. Đó là tình trạng gái bán hoa là các cô gái từ các tỉnh dạt về và trà trộn vào sinh viên, thuê phòng trọ như sinh viên, giả làm sinh viên để dụ khị các sinh viên xa nhà, lập nên những tiệm hớt tóc gội đầu thư giãn (còn gọi là “hớt tóc không tông đơ”) , các quán càfê đèn mờ.. để phục vụ cho giới mày râu ham của lạ. Đó là các tệ nạn ma tuý, trộm cướp mà các trang báo CAND, báo điện tử dân trí, việt báo, vietnamnet… đều đưa lên những bài phóng sự điều tra mà khi đọc đến chúng ta phải giật mình.  Báo CAND hồi tháng 6 vừa qua đưa tin: “Xã An Bình là trong những địa bàn trọng điểm phức tạp về tình an ninh trật tự ở huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Một trong những lý do dẫn đến tình trạng trên là xã giáp với 6 phường thuộc quận Thủ Đức (TP HCM) và có số dân tạm trú chiếm khoảng 3/4 dân số. Tuy nhiên, ngoài yếu khó khăn khách quan này, thì vai trò quản lý của các cấp chính quyền có phần còn lỏng lẻo, vì vậy các tụ điểm tệ nạn tồn tại từ nhiều năm qua đã thành một vấn đề nhức nhối tại đây. Đoạn đường Kha Vạn Cân, phần thuộc xã An Bình có chiều dài khoảng 300-400m, nhưng cứ cách độ 50m là lại có một điểm massage. Ở điểm massage Nh.Th. còn có hàng chục phòng dành cho các khách hàng thích "vui vẻ" cùng các nhân viên trẻ đẹp”. Ngày 4/1/2011, trang Web khác đưa tin: “Để hiểu rõ ngọn ngành về tệ nạn hớt tóc ôm và hớt tóc không tông đơ tôi đồng ý vô gội đầu. Bước vào khu vực dành để gội đầu mắt tôi hoa lên … Có vẻ như thấy tôi hơi bất ngờ với cảnh trên, cô gái kéo vội tấm màn che lại…Tôi móc ra tờ 20.000 đồng để trả dù mình chẳng làm gì, nhưng cô gái không chịu, nhất quyết đòi 50.000 đồng với lý do “vào đây có làm gì hay không thì cũng phải trả 50.000 đồng vì đó là quy định của bà chủ”. Rời quán hớt tóc không tông đơ mà lòng ấm ức vì bị mất 50.000 đồng, tôi vào tiếp 1 tiệm hớt tóc khác.
Nói chi xa, gần nơi chúng ta là đoạn đường từ bùng binh An Phú đến qua trạm thu phí, vẫn còn tồn tại các quán càfê dọc hai bên đường mà khi nhìn vào thì chỉ thấy xe mà không thấy người…không biết người ở đâu mà xe thì dựng đầy quán ?!
 Quả thực, để có được những bài phóng sự đó, các anh chị phóng viên cũng phải ‘bước vào cuộc đời”, xâm nhập thực tế, phải mất ăn mất ngủ, có khi còn nguy hiểm đến tính mạng, nhân phẩm chỉ vì một mục đích: Góp phần làm xã hội tốt hơn và gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho mọi người về một thực trạng nhức nhối đó.
Vâng, thực trạng tội lỗi đó đã có từ ngàn xưa, như sách huấn ca có nói: “những gì xảy ra hôm nay thì đã xảy ra từ ngàn xưa rồi”, chỉ khác một điều là càng ngày nó càng tỏ lộ một cách tinh vi hơn, ẩn dưới vẻ đẹp đẽ hơn, thân thiện hơn đến độ con người không nhận ra là đang nhúng chân vào đó. Đó là hậu quả của tội Nguyên tổ. Bao lâu con người không chân nhận cái Chân -Thiện - Mỹ là chính Thiên Chúa thì con người vẫn phải đối diện với thực trạng đầy nhức nhối đó. Bản tính mỏng dòn yếu đuối vẫn theo sát con người chúng ta, bởi thế mà thánh Phaolô nói: những gì tốt đẹp tôi muốn thì tôi không làm, còn những gì xấu xa tôi không muốn thì tôi lại cứ làm.
Chính vì để cứu con người thoát khỏi thân phận mỏng dòn đó mà Chúa Giêsu đã hạ mình mang thân phận con người, “bước xuống dòng sông cuộc đời” với con người, để mở ra thời đại cứu thế, vì Ngài chính là Ðấng Cứu thế đến trong trần gian, cũng chính là Người Tôi Tớ của Giavê đã được ngôn sứ Isaia loan báo từ 8 thế kỷ trước. Người tôi tớ này đã hoà vào dòng người tội lỗi để sống như họ, đồng cảm với những đau khổ của họ và để cứu vớt họ khỏi vũng bùn tội lỗi đó.
Người tôi tớ này đã bước xuống dòng sông chính là bước vào lòng đời, chia sẻ thân phận con người. bước xuống dòng sông là Ngài đã đảm nhận cuộc đời với một sự khiêm hạ để thánh hoá dòng sông cuộc đời – nơi chất chứa biết bao hy vọng, niềm vui, nỗi buồn và cả tội lỗi.
Cùng với Ðức Giêsu, Ðấng liên đới với nhân loại nghèo khó và yếu đuối, người kitô hữu chúng ta được mời gọi bước vào lòng đời để sống cuộc đời liên đới. Mọi ước muốn thống trị, đè bẹp, áp đảo, cho mình là quan trọng đều trở thành không phù hợp.
Cùng với Ðức Giêsu, nhờ bí tích Rửa tội, người kitô hữu chúng ta trở thành những người con yêu của Thiên Chúa, được Thiên Chúa Cha chuẩn nhận, được đón nhận Chúa Thánh Thần.Bởi vậy chúng ta phải hãnh diện vì là con Thiên Chúa, phải trân quý mạng sống của ta và của tha nhân. 
Cùng với Ðức Giêsu bước vào dòng sông cuộc đời, người kitô hữu chúng ta được mời gọi xây dựng các giá trị trần thế, cùng nhau xây dựng một xã hội lành mạnh, kiến tạo một thế giới yêu thương, nơi Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau. Amen.

Đừng sợ

"Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !"

Người Kitô hữu đang sống trong một xã hội, trong một chế độ, với những con người… nên sẽ không tránh khỏi, đôi khi còn phải gánh chịu những hệ quả xấu do xã hội, do những con người đó mang lại. Nhưng hãy tin rằng, ngày xưa Chúa đã đi trong đêm đen đầy bão tố của biển khơi để đến với các môn đệ, thì ngày nay Chúa vẫn luôn có mặt trong mọi khó khăn mà mỗi người chúng ta đang gặp phải. Điều quan trong là mỗi một người có cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời hay không. Sứ điệp Đại hội Dân Chúa mời gọi: Để Chúa hiện diện trong cuộc đời, chúng ta cần phải “cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể” để từ đó, chúng ta có thể vững tin và sống các giá trị Tin Mừng như Chúa Giêsu đòi hỏi.

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Lối thoát?

“Mai dâng lễ, xin cha cầu nguyện cho một linh hồn mới qua đời”
“Ai vừa qua đời? Linh hồn gì vậy?”
“Một người ngoại đạo…”
À! Thì ra là cô bé ngoại đạo không gặp may trong tình trường, nên đã uống 40v thuốc ngủ, nhịn ăn 5 ngày. Người ta phát hiện và kịp thời đưa lên bệnh viện. Cứu được. Nhưng bị liệt hai chân và một tay… Tỉnh dậy, vừa đau đớn trong tâm vừa thất vọng về thể xác, cô bé đã cắt mạch máu tay và ra đi…
“Khi yêu ai thật lòng thì dù có chết vì người ấy cũng mãn nguyện”.
Tình yêu của cô bé thật đáng khâm phục, thật quả cảm. Dẫu biết rằng, “Yêu là chết đi, là đóng đinh, là biết hy sinh cho người mình yêu”. Nhưng trong trường hợp này lời trăn trối của cô bé nghe sao thật buồn…
Phải chăng lòng cô bé thanh thản khi tìm đến cái chết hay đó là lối thoát duy nhất mà cô bé có được ? 

Lạy Chúa, cô bé đó dám chết vì tình yêu. Con yêu Chúa nhưng con chưa dám chết vì tình yêu . Con chưa dám chết đi trong tính ích kỷ, trong những đam mê, chưa dám gột rửa mình để xứng đáng với tình Chúa dành cho con.
 
Có những cuộc đời thật đáng sống.
Có những cái chết thật đầy ý nghĩa.



Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Bí quyết làm phép lạ

Người bảo các ông : "Anh em có mấy chiếc bánh ? Đi coi xem !" Khi biết rồi, các ông thưa : "Có năm chiếc bánh và hai con cá." (Mc 6,38)


Hôm nay, với năm chiếc bánh và hai con cá, Đức Giêsu đã làm phép lạ để nuôi sống hàng ngàn người. Vì là Thiên Chúa nên Đức Giêsu có thể làm phép lạ và bí quyết để phép lạ "hoá bánh ra nhiều" chính là lòng thương xót. "Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt". Con người cũng có thể làm phép lạ "hoá bánh ra nhiều" khi họ cũng biết chạnh lòng trước nỗi cơ cực của những người xung quanh. Một hai ngàn rất nhỏ và không đáng với một người, nhưng với một nhóm người góp lại sẽ là một con số đáng kể có thể nuôi sống những kẻ khốn khổ thiếu ăn thiếu mặc...

Phép lạ sẻ xảy ra khi con người biết đồng lòng chia sẻ cho nhau chút tình thương, chút vật chất, vì từ những "chút ít cá nhân" đó sẽ "góp gió thành bão" và bão tình thương - bão phép lạ có thể thổi bay đi cảnh đói nghèo cùng cực của tha nhân.